DANH MỤC

LIÊN KẾT ỨNG DỤNG

LIÊN KẾT WEBSITE

Trang nhất » Tin Tức » SINH HOẠT CÂU LẠC BỘ » CLB Văn học

VẺ ĐẸP TÂM HỒN CỦA NHỮNG CÔ GÁI THANH NIÊN XUNG PHONG QUA “LỜI THỈNH CẦU Ở NGHĨA TRANG ĐỒNG LỘC” CỦA NHÀ THƠ VƯƠNG TRỌNG

Thứ sáu - 23/09/2016 00:15 | Số lượt xem: 408
Vương Trọng - một người con của quê hương Nghệ An nhưng lại có nhiều duyên nợ với mảnh đất Hà Tĩnh. Trên bước đường dừng chân tại mảnh đất này ông đã để lại những dấu ấn khó phai mờ. Năm 1982, khi đến Nghi Xuân nhà thơ cho ra đời thi phẩm Bên mộ cụ Nguyễn Du và 12 năm sau - ngày mồng 5 tháng 7 năm 1995, Vương Trọng có dịp đến thăm Ngã ba Đồng Lộc - một di tích lịch sử nổi tiếng của đất nước tại Can Lộc, ông cũng đã để lại một bài thơ nổi tiếng “Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc”. Bài thơ được in lần đầu vào năm 1995, có mặt trong tuyển tập thơ về Đồng Lộc năm 1998 và sau này được in trong tập thơ riêng của tác giả “Năm ngắn ngày dài” (2005). Bốn năm sau – năm 2002, bài thơ được khắc vào tấm bia đá bằng những dòng chữ đẹp, tô màu sơn vàng trang trọng và cũng đã được Luật sư Trần Đình Hoành - một Việt Kiều yêu nước sống tại Hoa Kỳ dịch ra tiếng Anh. Những người yêu văn nghệ, yêu quý thơ Vương Trọng, kính trọng, khâm phục tinh thần anh hùng của mười cô gái Ngã ba Đồng Lộc thì không mấy ai không biết tới bài thơ. Nó đã đi sâu vào tình cảm thiêng liêng của nhiều người dân Việt dù đã đến hay chưa một lần đến với Đồng Lộc.

            Vương Trọng - một người con của quê hương Nghệ An nhưng lại có nhiều duyên nợ với mảnh đất Hà Tĩnh. Trên bước đường dừng chân tại mảnh đất này ông đã để lại những dấu ấn khó phai mờ. Năm 1982, khi đến Nghi Xuân nhà thơ cho ra đời thi phẩm Bên mộ cụ Nguyễn Du và 12 năm sau - ngày mồng 5 tháng 7 năm 1995, Vương Trọng có dịp đến thăm Ngã ba Đồng Lộc - một di tích lịch sử nổi tiếng của đất nước tại Can Lộc, ông cũng đã để lại một bài thơ nổi tiếng “Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc”.

Bài thơ được in lần đầu vào năm 1995, có mặt trong tuyển tập thơ về Đồng Lộc năm 1998 và sau này được in trong tập thơ riêng của tác giả “Năm ngắn ngày dài” (2005). Bốn năm sau – năm 2002, bài thơ được khắc vào tấm bia đá bằng những dòng chữ đẹp, tô màu sơn vàng trang trọng và cũng đã được Luật sư Trần Đình Hoành - một Việt Kiều yêu nước sống tại Hoa Kỳ dịch ra tiếng Anh. Những người yêu văn nghệ, yêu quý thơ Vương Trọng, kính trọng, khâm phục tinh thần anh hùng của mười cô gái Ngã ba Đồng Lộc thì không mấy ai không biết tới bài thơ. Nó đã đi sâu vào tình cảm thiêng liêng của nhiều người dân Việt dù đã đến hay chưa một lần đến với Đồng Lộc.

            Trước hết nhan đề bài thơ gợi mở cho người đọc nhiều suy nghĩ. Cụm từ “Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc” đưa người đọc vào một không khí vô cùng trang nghiêm, thành kính. Không khai thác tính chất bi tráng của hình tượng, tứ thơ của Vương Trọng dẫn dắt người đọc tìm về những nẻo khuất trong tâm hồn một cách khá bất ngờ. Trong nhan đề bài thơ ít nhiều đã có sự khơi gợi, dắt dẫn người đọc vào “không gian yên,thời gian tịnh” của khói hương. Tuy nhiên đây không phải là lời thỉnh cầu của tác giả hay của ai đó khi đến viếng thăm Ngã ba Đồng Lộc mà là lời thỉnh cầu trong thế giới hư cấu, tưởng tượng - các liệt sĩ anh hùng. Vương Trọng đã hoá thân thành mười cô gái ở Nghĩa trang Đồng Lộc để gửi gắm lời nhắn nhủ đến cuộc đời, đến với tâm hồn mỗi người.

Kết cấu bài thơ có thể được chia làm 4 phần với 4 lời thỉnh cầu. Những lời thỉnh cầu ấy được tái hiện trong một không gian nghệ thuật độc đáo, trang nghiêm, thành kính và được cảm nhận qua lăng kính của thế hệ hiện tại về những mong ước hiện tại của thế hệ đã khuất. Không phải ngẫu nhiên nhà thơ Vương Trọng đã bắt đầu mỗi khổ thơ bằng một lời thỉnh cầu mà điểm chung giữa chúng là đã đặt ra một giả định. Tác giả đã tạo tình huống để mười cô gái trò chuyện với các đoàn khách đến viếng thăm. Qua tình huống giả định ấy, người đọc như cảm nhận rõ hơn vẻ đẹp của những cô gái thanh niên xung phong - vẻ đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam trong các cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc. Đó cũng là điều tạo nên sự hấp dẫn và độc đáo của bài thơ này.

 Lời thỉnh cầu thứ nhất là tâm tư được thể hiện khi thấy nhiều bát hương được thắp lên. Lúc ấy các cô gái như cảm thấy rằng mình đã nhận được quá nhiều tri ân. Họ có chút băn khoăn và mong muốn được sẻ chia với bao đồng chí, đồng đội - những người đã dũng cảm hy sinh để bảo vệ đất nước. Bởi mảnh đất anh hùng này là huyết mạch giao thông của dân tộc ta – nơi hứng chịu túi bom, chão đạn trong những năm chiến tranh chống Mỹ ác liệt. Bao nhiêu thanh niên xung phong làm nhiệm vụ ở đây đã hy sinh, cả bao chiến sĩ trên đường dài ra trận đi qua đã phải ngã xuống và thân thể đã quyện hòa trong lòng đất mẹ? Con số ấy hẳn nhiên khó mà đo đếm được. Và cũng đã có biết bao nhiêu người đến với nơi đây để thành tâm khấn nguyện, để dâng lên linh hồn các anh hùng liệt sĩ nén tâm hương. Vì thế mười cô gái khát khao “Lòng tưởng nhớ xin chia đều khắp” để “dành phần cho đất”, để sự tri ân ấy lan tỏa, chan hòa trong nắng gió, cỏ cây Đồng Lộc. Đó chính là tấm lòng vị tha vốn có của các cô gái thanh niên xung phong nơi ngã ba Đồng Lộc nói riêng và của phụ nữ Việt Nam nói chung. Lời thỉnh cầu còn là sự lên tiếng của lịch sử.

 - Mười bát nhang, hương cắm thế đủ rồi
Còn hương nữa hãy dành phần cho đất
Ngã xuống nơi này đâu chỉ có chúng tôi
Bao xương máu mới làm nên Đồng Lộc
Lòng tưởng nhớ xin chia đều khắp
Như cỏ trong thung, như nắng trên đồi.

          Mảnh đất Đồng Lộc là nơi hành hương về nguồn của rất nhiều thế hệ con người Việt Nam. Có một tầng lớp đông đảo các em thiếu nhi. Chủ thể nhân vật trữ tình đã bày tỏ mong muốn:

 - Hoa cỏ may khâu nặng ống quần, kìa!
Ơi các em tuổi quàng khăn đỏ
Bên bia mộ xếp hàng nghiêm trang quá
Thương các chị lắm phải không? Thì hãy quay về
Tìm cây non trồng lên đồi Trọ Voi và bao vùng đất trống
Các chị nằm còn khát bóng cây che.

Lời thỉnh cầu thứ hai là lời nói riêng với các em học sinh – đó là ước nguyện giản dị, thiết thực mang tính giáo dục cao: Hãy xoa dịu vết thương của chiến tranh trên vùng đất vốn đã chịu nhiều mất mát, hy sinh này bằng những việc làm cụ thể nhưng có ý nghĩa lớn như trồng, chăm sóc cây xanh trên đồi Trọ Voi và bao vùng đất trống... Nơi đây còn lắm bông cỏ may, còn là vùng đất hoang sơ, thiếu sự sống.                           

Trong một bài thơ khác về Ngã ba Đồng Lộc sau đó không lâu, một nhà thơ cũng đã nhắc đến loài hoa dại này:

Hoa cỏ may níu dày hơn một chút

Những hạt ngâu màu buồn không chịu được

Cứ rưng rưng như muốn nói điều gì

                                                           (Hà ơi... Bùi Quang Thanh)

 Những việc làm thiết thực của các em sẽ giữ lại màu xanh cho rừng núi, giữ được vẻ đẹp tự nhiên, hiền hoà vốn có của dân tộc này. Đó cũng là lời nguyện cầu để giữ lấy môi sinh...

Một dấu ấn không thể nào quên trong lịch sử dân tộc đó là cái đói, cái nghèo. Vết tích chiến tranh như còn nhói lòng mỗi con người của thế hệ hôm nay mà các chị đã gợi lại: “Bữa ăn cuối cùng, mười chị em không có gạo/ Nắm mì luộc chia nhau rồi vác cuốc ra đường”. Đây lời nhắn nhủ tìm vào sâu thẳm những trái tim, bởi chi tiết chân thực đến nao lòng về bữa ăn cuối cùng không có gạo. Lời thỉnh cầu ấy là niềm day dứt khôn nguôi:

- Hai mươi bảy năm qua, chúng tôi không thêm một tuổi nào
Ba lần chuyển chỗ nằm, lại trở về Đồng Lộc
Thương chúng tôi, các bạn ơi đừng khóc
Về bón chăm cho lúa được mùa hơn

Đây là mong ước gửi đến những người nông dân quanh năm vất vả, chân lấm tay bùn. Là ước mơ cho mùa màng tươi tốt, bội thu, đem ấm no đến với tất cả mọi người trên đất nước vốn đã phải chịu nhiều đói rách, khổ đau.

          Ba khổ thơ trên là những lời thỉnh cầu cho đồng đội, cho môi sinh, cho đất  nước. Vậy các cô cần gì cho bản thân mình? Các cô vĩnh viễn nằm lại đất sâu ở lứa tuổi đẹp nhất của đời người, khi tất cả chưa có chồng và chưa ngỏ lời yêu. Sự hi sinh của những người con gái trong cái ngày đau thương ấy được đặc tả bằng một hình ảnh chân thực đầy ám gợi: “Ngày bom vùi tóc tai bết đất/ Nằm xuống mộ rồi, mái đầu chưa gội được”. Thiệt thòi và đau thương là thế nhưng mong muốn của các cô thật quá khiêm nhường: 

- Cần gì ư, lời ai hỏi trong chiều
Tất cả chưa có chồng và chưa ngỏ lời yêu
Ngày bom vùi tóc tai bết đất
Nằm xuống mộ rồi, mái đầu chưa gội được
Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang
Cho mọc dậy vài cây bồ kết
Hương chia đều trong hư ảo khói nhang.

Lời thỉnh cầu cuối cùng là mong ước hết sức giản dị, đời thường. Những gì là vĩ đại, là lớn lao họ đã dành cho quê hương, cho đất nước. Với bản thân mình chỉ xin những gì bé nhỏ, đơn sơ: cho mọc dậy vài cây bồ kết – một loài cây không hề sang trọng, quý phái mà giản dị, mộc mạc, quen thuộc của xứ Nghệ để ướp hương những mái tóc thanh xuân. Lời thỉnh cầu cuối cùng càng làm sáng lên vẻ đẹp tâm hồn của những cô gái rất độ lượng, bao dung, vị tha. Chính họ - những con người bình thường đã làm nên những hành động phi thường. Họ và bao nhiêu người khác nữa đã hy sinh tuổi thanh xuân của riêng mình để đem lại mùa xuân cho dân tộc, cho đất nước. Tuổi thanh xuân của mười cô gái và bao nhiêu người anh hùng nữa đã gửi mãi nơi đây. Bùi Mạnh Hảo cũng đã từng nhắc đến điều này:               

                       Các chị nằm lại đây

Không gian yên, thời gian tịnh

Vạn vật nhòa, sâu mày suy tưởng

Dáng nhang lay ngút ngát bóng thiên thanh

Kỳ diệu thay, hóa tạo bậc sinh thành

                           (Mười bông hoa trinh liệt)

Những cây bồ kết trong “Dáng nhang lay ngút ngát bóng thiên thanh”, trong thanh khiết khói hương khép lại bài thơ là điểm nhấn làm sáng bừng vẻ đẹp vốn có của bao nhiêu người con gái, bao nữ thanh niên xung phong hồn nhiên, tinh nghịch, trẻ trung đã ngã xuống cho đất nước này. Không kể công lao, không màng danh lợi, chỉ xin nhận về mình chút ước mong nhỏ bé, nữ tính của tuổi thanh xuân. Vương Trọng đã nói hộ lời thỉnh cầu không chỉ ở nghĩa trang Đồng Lộc mà còn bao nhiêu nghĩa trang liệt sĩ khác trên đất nước ta. Lời thỉnh cầu ấy gợi nên không khí thiêng liêng, thành kính, chuyển tải được những thông điệp giản dị nhưng gần gũi, chân thành, cảm động và sâu sắc biết nhường nào....

Bài thơ khép lại nhưng chưa kết thúc bởi nó còn lay thức tâm hồn bao thế hệ - những con người sống trong thời đại hôm nay suy nghĩ về trách nhiệm, hành động của bản thân mình. Có thể là sự lựa chọn, là mục tiêu, là cái đích hướng tới của mỗi người; là sự cống hiến, đền đáp của mỗi người đối với dân tộc, với Tổ quốc để xứng đáng với công lao, với mong muốn của những người đi trước.

Có một điều thú vị nữa không phải ai cũng biết, chính từ khi bài thơ “Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc” ra đời mới có hai cây bồ kết xum xuê toả bóng trên mộ mười cô như ngày nay. Hay nói khác hơn lời thỉnh cầu đã có khúc vĩ thanh ngọt ngào mà đậm chất nhân văn.

Hơn 15 năm sau, đến di tích lịch sử Ngã ba Đồng Lộc khi chiều dần buông, ta thắp nén hương thơm lên mộ 10 cô gái anh dũng đã về với đất mẹ khi tuổi xuân phơi phới và cũng là sự tưởng nhớ hàng nghìn thanh niên xung phong đã ngã xuống trên các cung đường lửa đạn... Chợt nghẹn lòng khi nghe tiếng chuông ngân. Từ tháp chuông cao vút tạc giữa mây trời Đồng Lộc, tiếng chuông loang ra trong chiều, chạm vào 10 ngôi mộ rưng rưng hương bồ kết. Tiếng chuông chạm vào những dòng chữ ghi tên bao người đã ngã xuống cho đất nước hồi sinh, chạm vào hố bom - dấu tích của chiến tranh để những người còn sống càng trân trọng hòa bình, tự do và độc lập. Tiếng chuông chạm vào hàng thông vi vút trên đồi Trọ Voi và bao vùng đất trống khi xưa, chạm vào trời xanh Can Lộc để thì thầm lời cầu nguyện cho những người con bất tử trong lòng dân. Có phải chăng đó chỉ là thanh âm của thế giới bên ngoài hay còn là tiếng đồng vọng từ những miền sâu thẳm trong cõi tâm linh của biết bao hồn Việt? “Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc” của Vương Trọng đã chạm đến những tiếng lòng sâu thẳm ấy.

Tác giả bài viết: Dương Thị Huyên

Tổng số điểm của bài viết là: 2 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

HÌNH ẢNH NỔI BẬT

TIN BÀI MỚI NHẤT

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 9


Hôm nayHôm nay : 238

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 6783

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 154715